Người hỏi quê xưa nhớ những gì
trong ta là nỗi sầu bi trập trùng
là đêm trăng lạnh buồn lưng thững
là lệ ai trào lấp lánh loang
ta với bàn tay chặm giọt lòng
của người hiên cũ hoài mong chớm tàn
thương ai phận mỏng lỡ làng
khép hồn thơ mộng cánh vàng nguyệt hoa
gió đông từ độ qua se lạnh
ta thành ly khách bạt tha hương
tha hương mượn rượu quên sầu cũ
uống cả trăng vàng chếnh choáng say
rượu cạn, bè tan, lãng đãng đời
công danh như mộng huyễn hao thành
ta mơ chữ nghĩa nên đành đoạn
bỏ chút tình say lấy lệ nồng
ôi gió nam phương vô tình thổi
nhắc ngày đông cũ sắt se mong
mây bay cuối nẻo về đâu nhỉ
chỉ thấy trời xanh tắt lửa lòng
đêm nay lại chén rượu đầy
hỏi người tri kỷ có hay lòng mình
chắc là không ! kẻ cuồng ca dã
mượn rượu quên đời có gì hay ?
còn một chén, rượu này chưa muốn cạn
rót về đông, hòa nước biển mặn nồng
mặn mùi gió cùng người du phương thưở
nồng hương xa theo con sóng dạt bờ
rót về tây, ngắm mây chiều tím rủ
mắt ai cười nghiêng cả một giang san
nhưng làm sao nghiêng ngả lòng ta được
dẫu là say, chút tỉnh vẫn giữ mình
rót về bắc, thấy quê nhà ta đó
rượu đã sầu nghe gió càng sầu thêm
thôi thì cạn, mơ đêm nồng hương cũ
thấy dáng huyền phủ cả một trời sương
rót về nam, chỉ còn mình ta nhỉ
mai đi xa, quên mất xứ phương này
tiêu dao tứ hải hồ lai khứ
hà tất phù trầm khấp trượng phu
thôi, ta, cạn hết chén này
cho đời say tỉnh, bỏ đời tỉnh say
người còn gửi mộng trong tay
ta còn chinh mộng hẹn ngày hoan ca
sách xưa mực cũ đã nhoà
hẹn người về thấm lệ hoa viết cùng
Montréal, Giao thời, Tết tây
tháng Một, 2026
Trí Như
thi cảm khi đọc :
NAM PHƯƠNG CA KHÚC 南方歌曲
Trượng phu 丈夫 sanh 生 bất năng 不能 phi can 披肝 chiết hạm 折檻 vị thế 爲世 phù 扶 cương thường 綱常.
Tiêu dao 逍遙 tứ hải 四海, hồ vị hồ 胡爲乎 thử hương 此鄕 ?
Hồi đầu 回頭 nam vọng 南望 mạc vô cực 邈無極 hề 兮, thiên vân 天雲 nhất sắc 一色 đồ 徒 thương thương 蒼蒼.
Lập công 立功 bất thành 不成, học 學 bất tựu 不就, thiếu tráng 少壯 hữu cơ thần 有幾辰 hề 兮, tọa thị 坐視 bách niên 百年 thân thế 身世 khu 驅 âm dương 陰陽.
Phủ chưởng 撫掌 cuồng ca 狂歌 vấn 問 tư thế 斯世 mang mang 茫茫 thiên địa 天地, an đắc 安得 tri nhất 知一 tri kỷ 知己 hề 兮, thí lai 試來 đối chước 對酌 hữu 祐 dư thương 予觴.
Dư thương 予觴 trịch hướng 擲向 đông minh 東溟 thủy 水, đông minh chi thủy 東溟之水 vạn đội 萬隊 khởi 啓 cuồng lan 狂瀾.
Dư thương 予觴 trịch hướng 擲向 tây sơn 西山 vũ 雨, tây sơn chi vũ 西山之雨 nhất trận 一陣 hà 何 uông dương 汪洋.
Dư thương 予觴 trịch hướng 擲向 bắc phong 北風 khứ 去, bắc phong 北風 dương sa 揚沙 tẩu thạch 走石 phi 飛 thù phương 殊方.
Dư thương 予觴 trịch hướng 擲向 nam thiên 南天 vụ 霧, vụ trung 霧中 hữu nhân 有人 khai khẩu 開口 nhất ẩm 一飮 cừ nhiên 蘧然 túy 醉.
Thiên địa 天地 vũ trụ 宇宙 hồn tương vong 渾相忘, dư bất túy hỉ 予不醉矣, dư hành 予行 dư chí 予志.
Nam nhi 男兒 tự cổ 自古 sự 事 tang bồng 桑蓬, hà tất 何必 cùng sầu 窮愁 khấp 泣 phần tử 枌梓.
Dịch thơ (hành)
HỒ TRƯỜNG
Trượng-phu không hay xé gan bẻ cột phù cương-thường ;
Hà-tất tiêu-dao bốn bể, luân-lạc tha-hương.
Trời nam nghìn dậm thẳm ; mây nước một mầu sương.
Học không thành, công chẳng lập, trai-trẻ bao lâu mà đầu bạc ; trăm năm thân-thể bóng tà-dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang-mang, ai là tri-kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ-trường.
Hồ-trường ! Hồ-trường ! ta biết rót về đâu ?
Rót về đông-phương, nước bể Đông chẩy xiết sinh cuồng-lạn ;
Rót về tây-phương, mưa tây-sơn từng trận chứa-chan ;
Rót về bắc-phương, ngọn bắc-phong vì-vụt, đá chạy cát dương ;
Rót về nam-phương, trời nam mù-mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết lòng ta hay ;
Nam-nhi sự-nghiệp ở hồ-thỉ, hà-tất cùng-sầu đối cỏ cây.
Nguyễn Bá Trác dịch, khoảng 1920